Bài đăng

TU LÀ GÌ ??? 🤔🤔🤔

Hình ảnh
  Tu là gì? 🤔 Tu không chỉ đơn giản là việc "sửa" đổi bản thân. Bởi lẽ, khi chưa có đủ nhận thức và trí tuệ, ta sẽ không biết mình cần sửa gì và sửa như thế nào. Vậy tu thực chất là gì? Tu là một quá trình nhận thức sâu sắc để từ đó điều chỉnh lại nhận thức và hành vi của chính mình theo lời dạy của Đức Phật. Cụ thể, tu tập không phải là lý thuyết suông mà phải được thực hành một cách thiết thực. Phương pháp duy nhất và cốt lõi để thực hành quá trình nhận thức (tu) chính là thông qua việc thực hành lời dạy của Đức Phật trong Kinh Đại Niệm Xứ hoặc Kinh Tứ Niệm Xứ. Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ và giúp mọi người hiểu đúng, thực hành đúng con đường tu tập qua Kinh Tứ Niệm Xứ, tôi đã mạnh dạn chia sẻ những nhận thức và quan điểm của mình về lời dạy quý báu này. Rất mong quý vị cùng đón đọc và trao đổi! 🙏 https://sites.google.com/view/baothucac/tatcatailieu/pp

Quý vị nghĩ sao về hành động này của nhà sư ?

Hình ảnh
Mình nghĩ rằng: Đạo Phật là đạo tỉnh giác. Giác ngộ để giải thoát mọi khổ đau, không nương tựa, chấp chước vật gì trong đời. Trong tiến trình giác ngộ giải thoát (thất giác chi) thì có niệm giác chi, trạch pháp giác chi là những bước đầu. Trong bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy. Hành động này của nhà sư mình không nhận thấy lợi lạt gì cho việc tu tập giác ngộ để giải thoát, cũng không thấy có lợi lạt cho xã hội. Nó gần giống với tu khổ hạnh hơn. Thoạt nhìn thì thấy ngưỡng mộ ý chí, tâm thành,... Nhưng với Phật pháp thì cần "Duy tuệ thị nghiệp". Giác ngộ mới giải thoát được mọi khổ đau, thành chính quả. Trong kinh Đại niệm xứ, Phật có dạy: Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ. Phật khuyên : luôn nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Qua tu tập tứ niệm xứ cần tuệ chi để nhận ra vô thường, vô ngã và "...sống an trú chánh niệm như...

Làm sao để biết đó có phải là Chánh Pháp ?

Hình ảnh
 

Quán chiếu về tính KHÔNG

Hình ảnh
 

VÔ NGÃ – KHỔ - VÔ THƯỜNG (BA ĐẶC TÍNH CỦA HIỆN TƯỢNG SỰ VẬT)

Hình ảnh

Bảy bước đến thực tại (Thất giác chi) - Hòa thượng Pháp Tông thuyết giảng

Hình ảnh

Năm tổ hợp tạo nên tiến trình sống (Ngũ Uẩn) - Hòa thượng Pháp Tông thuyết giảng

Hình ảnh

Một số cách giải thích về mười hai nhân duyên

Một số cách giải thích về mười hai nhân duyên Mười hai nhân duyên, hay Duyên khởi, là nguyên lý của mọi hiện hữu. Nó là sự thật nên không bị giới hạn trong không gian và thời gian.  Ðức Phật khẳng định rằng: "Duyên sinh là thực tính của mọi hiện hữu, sự thật này không thay đỗi dù Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện".  Một hiện hữu dù nhỏ như hạt nhân của nguyên tử đến to lớn như vũ trụ cũng không nằm ngoài nguyên lý này. Với đặc tính đó, giáo lý mười hai nhân duyên có thể dùng để soi sáng nhiều vấn đề khác trong cuộc đời như luân hồi, nhân quả... tùy thuộc theo góc quan sát của người giải thích. Ở đây chỉ giới thiệu 4 cách giải thích phỗ biến. 1- Dạng thức tỗng quát :  "Do cái này có mặt, cái kia có mặt; do cái này không có mặt, cái kia không có mặt; do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt" . (Tiểu Bộ kinh, tr.291).  Dạng thức này là cách trình bày khái quát, tóm tắt và đơn giản nhất do chính Ðức Phật nói. Nó được xem như là một nguyên lý c...

Sự vận hành của mười hai nhân duyên

Sự vận hành của mười hai nhân duyên Thông qua ý nghĩa của các chi phần mười hai nhân duyên, đặc biệt là chi phần lục nhập, một lần nữa khẳng định rằng, dạng thức duyên khởi này là giáo lý nói về con người, bởi vì chỉ ở con người mới có đầy đủ 6 cơ quan tri giác. Do vậy, khi nói về sự vận hành của mười hai nhân duyên cũng chính là nói về sự vận hành con người. Vì không nhận biết hiện hữu (con người và thế giới) là do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi, luôn biến dịch và không có một tự thể thường hằng, nên con người ảo tưởng về một tự ngã: đây là cái tôi và đây là cái của tôi (Vô minh). Chính ảo tưởng và sự bất giác này quấy động tâm thức, làm sinh khởi lòng tham ái, chấp thủ...  Và đó là động cơ cho các hành động của thân, lời và ý (Hành). Mỗi khi ý niệm về một tự ngã sinh khởi thì Thức có mặt. Sự hiện hữu của Thức tất yếu đòi hỏi sự có mặt của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức (Danh sắc, Lục nhập). Khi căn, trần và thức gặp gỡ nhau ...

Ý nghĩa của mười hai chi phần nhân duyên

Ý nghĩa của mười hai chi phần nhân duyên 1- Vô minh (Avijjà) : sự mê mờ, cuổng si của tâm thức; hay nói cách khác là sự không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô thường và không có một tự  thể độc lập, bất biến. 2- Hành (Sankhàra): động lực, ý chí hành động tạo tác (ý hành) của thân, miệng và ý. 3- Thức (Vinnana): tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức), mũi (tỉ thức), lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức). 4- Danh sắc (Nàma - rùpa): sắc là phần vật lý và sinh lý, danh là phần tâm lý. Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các giác quan và chức năng của chúng; danh là các tâm phụ thuộc (tâm sở), như xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. 5- Lục nhập (Chabbithàna): có nơi gọi là sáu xứ, là sự tương tác giữa 6 căn (= 6 nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là 6 trần (= 6 ngoại xứ: hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - phá...